Soạn văn Em bé thông minh chương trình Ngữ văn lớp 6

soan-van-em-be-thong-minh-chuong-trinh-ngu-van-lop-6
Soạn văn Em bé thông minh
Loading...

Soan van Em be thong minh – Với những lời giải chi tiết, soạn văn Em bé thông minh sẽ mang đến cho người học những định hướng đúng đắn trong việc tiếp cận và phân tích tác phẩm. Các bạn hãy cùng theo dõi nhé! Soạn văn lớp 6

Câu 1: Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích không? Tác dụng của hình thức này?

Trả lời:
Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật trong truyện cổ tích rất phổ biến, hình thành nên kiểu nhân vật thông minh. Tác dụng của hình thức này là:
– Tạo nên những tình huống li kì để nhân vật bộc lộ trí thông minh và tài năng của bản thân.
– Tạo nên sự hấp dẫn, gay cấn của câu chuyện, từ đó tạo nên được những tiếng cười hồn nhiên, giải trí trong cuộc sống hằng ngày.

Câu 2: Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao?

Trả lời:
Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua bốn lần, cụ thể:
– Lần thứ nhất: giải câu đố của viên quan về số đường cày của trâu và đố lại.
– Lần thứ hai: Dùng vở kịch để nhà vua đưa ra lí lẽ thừa nhận sự phi lí của mình khi yêu cầu dân làng nuôi ba con trâu đực đẻ thành chín con.
– Lần thứ ba: Em bé đố lại nhà vua khi vua đố dọn một con chim sẻ thành ba mâm cỗ
– Lần thứ tư: cậu bé giải câu đố của viên quan sứ bằng kinh nghiệm dân gian.
Qua bốn lần, lần sau luôn khó hơn lần trước, vì thử thách sau luôn tạo ra tình huống giải đố khó hơn và thách đố oái oăm hơn, kịch tính và nguy hiểm hơn.

Câu 3: Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

Trả lời:
Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách:
– Lần thứ nhất: giải câu đố của viên quan và đố lại.
+ Viên quan hỏi: Trâu cày một ngày được mấy đường?
+ Cậu bé nhanh trí hỏi vặn lại: Mỗi ngày quan đi được bao nhiêu bước?
+ Khiến quan sửng sốt và không trả lời được.
– Lần thứ hai: Dùng vở kịch để nhà vua đưa ra lí lẽ thừa nhận sự phi lí của mình. + Vua hạ lệnh ban cho làng ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực và ra lệnh phải nuôi ba con trâu đực ấy đẻ được chín con.
+ Cậu bé lên kinh và khóc lóc trước mặt nhà vua việc mẹ mất sớm và cha mình không chịu đẻ em bé.

– Lần thứ ba: Em bé đố lại nhà vua
+ Vua ra lệnh phải dọn ba cỗ thức ăn từ một con chim sẻ.
+ Em bé đố lại nhà vua rèn một cái kim may thành con dao để làm thịt chim sẻ.
– Lần thứ tư: cậu bé giải câu đố của viên quan sứ bằng kinh nghiệm dân gian.
+ Sứ thần đưa một cái vỏ ốc vặn rất dài, rỗng hai đầu, đố xâu một đường chỉ đi xuyên qua đường ruột con ốc đó.
+ Em bé đưa ra cách giải đố bằng một câu hát với nội dung buộc chỉ ngang lưng con kiến càng, dùng mỡ bôi lên một đầu để con kiến đi qua con ốc.
Những cách giải đố của em bé vô cùng lí thú, thể hiện qua:
– Làm cho người ra câu đố tự dùng lí lẽ để chỉ ra sự phi lí trong câu đố.
– Linh hoạt giải đáp câu đố bằng lí lẽ và vặn lại người ra câu đố.
– Sử dụng kinh nghiệm thực tế, vô cùng dân giã để giải đố.

Câu 4: Hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích “Em bé thông minh”

Trả lời:
Truyện “Em bé thông minh” đã đề cao trí thông minh, nhanh nhẹn của con người và trí khôn dân gian. Đồng thời thể hiện rằng những kinh nghiệm thực tiễn luôn đem đến những bài học quý giá cho con người.

Loading...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*